Suy Niệm Mầu Nhiệm Thương Khó của Đức Giê-su Ki-tô

ĐỨC GIÊ-SU THÁNH THỂ (Mc 26, 30-46)
ĐỨC GIÊ-SU CẦU NGUYỆN (Mc 26, 30-46)
ĐỨC GIÊ-SU BỊ GIAO NỘP (Mc 26, 47-56)
ĐỨC GIÊ-SU BỊ XÉT XỬ (Mc 26, 57-58)
 
----------------------------------------------------------
Bài Suy Niệm 01 - ĐỨC GIÊ-SU THÁNH THỂ (Mc 26, 30-46)
 
Trong bí tích Thánh Thể, chúng ta được mời gọi nhận ra, nơi Đức Giê-su, Thiên Chúa trao ban ân huệ lớn nhất, là chính sự sống và ngôi vị của mình, như người cha nói với người con lớn trong dụ ngôn Người Cha Nhân Hậu: “Tất cả những gì của cha là của con”; và chúng ta được mời gọi hiểu chữ “tất cả” trong lời của người cha không chỉ là của cải. Nơi Đức Giê-su, Thiên Chúa trao ban ân huệ lớn nhất để đáp ứng khao khát lớn nhất của con người, vì con người được dựng nên theo hình ảnh của Thiên Chúa, nên tự bản chất khát khao Thiên Chúa và những gì thuộc về Thiên Chúa, dù ý thức hay không ý thức, tin hay không tin. 
Nhưng ơn huệ lớn nhất này lại được trao ban trong một bữa ăn của Truyền Thống, để nói diễn tả sự liên tục và hoàn tất và với một bầu khí tuy thân mật, nhưng chẳng ai hiểu gì; và ngang qua những tương quan đỗ vỡ và thù địch, để diễn tả tính nhưng không, và tình yêu Thiên Chúa mạnh hơn tội lỗi, sự dữ và sự chết. Chúng ta hãy lắng nghe và nhìn ngắm Đức Giê-su lời nói và cử chỉ của Đức Giê-su. Chúng ta nên cầu nguyện trước Thánh Thể: nhìn, nghe, quan sát và để cho mình được đánh động; hoặc một cách đơn giản: hiện diện, thinh lặng, tâm sự và để cho mầu nhiệm Thánh Thể chinh phục con tim chúng ta.
 
1. Bánh Thánh Thể và Sự Dữ
Chúng ta được mời gọi nhận ra sự tương phản tuyệt đối giữa Sự Dữ, hành động nơi những con người cụ thể, và Đức Giê-su Thánh Thể; dụ ngôn “Những tá điền sát nhân” diễn tả cách tuyệt vời sự tương phản tuyệt đồi này. Chúng ta xin được hiểu tại sao, Đức Giê-su lại phản ứng bằng cách “mang lấy”, thay vì lên án và tiêu diệt.
a. Các thượng tế và kinh sư
Lễ Vượt Qua và lễ Bánh Không Men, được cử hành cùng một lúc, và là lễ lớn nhất trong năm của người Do Thái, nhằm tưởng nhớ ơn giải thoát khỏi Ai Cập và tưởng nhớ những ân huệ Thiên Chúa ban cho dân. Và chính trong bầu khí tưởng nhớ và hiện tại hóa ơn sự sống mà Thiên Chúa ban, mà các thượng tế và luật sĩ lập mưu, bắt lấy Đức Giêsu và giết đi. Những gì mà họ muốn làm cho Đức Giê-su, về những lần Ngài chữa bệnh vào ngày Sa-bát, vốn cũng là ngày tưởng nhớ ơn huệ, đạt tới đỉnh cao ở đây:
Lúc ấy, các thượng tế và kỳ mục trong dân nhóm họp tại dinh của vị thượng tế tên là Cai-pha, và cùng nhau quyết định dùng mưu bắt Đức Giê-su và giết đi. Nhưng họ lại nói: “Không nên làm vào chính ngày lễ, kẻo gây náo động trong dân.”
(Mt 26, 2-5)
Chúng ta được mời gọi nhận ra chính Sự Dữ đang hành động nơi những con người cụ thể, đang để mình lộ diện nơi những con người cụ thể. Đức Ki-tô đến là vì giờ phút này, làm cho Sự Dữ hiện ra nguyên hình và giải phóng sự sống của loài người chúng ta khỏi Sự Dữ. Bởi lẽ, Ngài không thể tha thứ và giải thoát chúng ta khỏi Sự Dữ và Sự Chết, mà không cho chúng ta thấy bộ mặt thật của Sự Dữ và Sự Chết. Chúng ta sẽ khám phá ra sự dữ từ từ trong suốt hành trình Thương Khó của Đức Ki-tô, nhưng ở đây, sự dữ đã để lộ ra ba đường nét thuộc về bản chất của nó:
• Lên án người vô cớ. Như thế, điều xấu có nơi người lên án, chứ không phải nơi người bị lên án.
• Dùng điều tốt, để thực hiện ý đồ đen tối, ý đồ loại trừ và giết chết. Ở đây là bầu khí lễ Vượt Qua; sau đó, trong những lần xét xử Đức Giê-su, là lề luật.
• Dùng mưu để bắt và giết là cung cách hành xử của Con Rắn (x. St 3, 1-7), nghĩa là của Sự Dữ.
b. Giu-đa
Tại sao Giu-đa phản bội? Về hành động của Giuda, nếu chúng ta so sánh bốn Tin Mừng, chúng ta sẽ nhận ra rằng, mỗi TM nói về ông một cách khác nhau. Điều này, cho thấy, hành động của ông phức tạp hơn chúng ta tưởng, nhất là chúng ta chỉ biết hành vi thôi, chứ không thấy được những động lực phức tạp của nội tâm. Tin Mừng theo thánh Mát-thêu nhấn mạnh đến lí do tiền bạc: “Tôi nộp ông ấy cho quí vị, thì quí vị muốn cho tôi bao nhiêu?” (Mt 26, 15). Tuy nhiên, những gì diễn ra sau đó, cho thấy Giu-đa không phải hành động vì tiền: ông đã hội hận và trả lại tiền; nhưng ông đã không mở lòng ra để đón nhận lòng thương xót, nhưng tự làm quan tòa của chính mình. Lời loan báo của Đức Giê-su về Giu-đa ẩn dấu nhiều bí ẩn:
• Lời loan báo hướng tới một người, nhưng ai cũng buồn rầu và thấy mình có liên quan: “Thưa Ngài, chẳng lẽ con sao?” (26, 22). Về chuyện này, không ai chắc chắn về mình cả. Có sức mạnh nào đó vượt quá các tông đồ, các môn đệ, vượt quá Giuđa, vượt quá mỗi người chúng ta.
• Đức Giêsu biết trước, nhưng tại sao Ngài như vẫn chấp nhận và thậm chí đón nhận Giuđa, ít nhất là trong bữa ăn này? “Nhóm Mười Hai” cùng tới đầy đủ, cùng vào bàn, cùng ăn (c. 20); và lời nói này có nguồn gốc từ một Thánh Vịnh, Tv 41, 10. Và sự bao dung này vẫn diễn ra hằng ngày trong Thánh Lễ.
• Lời của Đức Giê-su về Giu-đa là một lời than, chứ không phải chúc dữ: “Bất hạnh cho kẻ nào nộp Con Người: thà nó đừng sinh ra thì hơn!”. Nhưng dù sao, lời này cũng quá nghiêm trọng. Biến cố hoài thai, vốn là một ân huệ, một công trình tạo dựng kì diệu (x. Tv 139, 13), trở nên không đáng có. Chúng ta cũng có thể, liên kết tội của Giu-đa với tội nguyên tổ: vô ơn, ham muốn, nghi ngờ. Nếu là như thế, tội của Giu-đa, là nơi hội tụ của mọi tội. Tội này có nguyên nhân là Con Rắn, và Tội này cũng dẫn đến ơn cứu độ là Thập Giá Đức Giê-su.
• Nhưng đó lại là kế hoạch của Thiên Chúa: “như lời đã chép về Người”; như vậy là làm sao? Đây là mầu nhiệm trên hết mọi mầu nhiệm. Câu chuyện của Giuse trong sách Sáng Thế giúp chúng hiểu được phần nào mầu nhiệm này: “Ông Giu-se nói với họ: Đừng sợ! Tôi đâu có thay quyền Thiên Chúa! Các anh đã định làm điều ác cho tôi, nhưng Thiên Chúa lại định cho nó thành điều tốt, để thực hiện điều xảy ra hôm nay, là cứu sống một dân đông đảo” (St 50, 19-20). 
Như thế, bản chất đích thực của hành vi phản bội phức tạp hơn chúng ta tưởng; thực vậy, cùng với Giuđa, còn có ma quỉ (x. Ga 13, 2 và 27; Lc 22, 3) và hơn nữa cả hai được tháp vào trong kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa. Giuđa, và cùng với Giu-đa là Satan, không những không ngăn cản được tình yêu của Đức Giêsu, nhưng vô tình làm cho tình yêu ấy trở nên tuyệt đối và đi đến cùng. Tình yêu đến cùng dành cho các môn đệ, trong đó có Giuđa, cho từng người chúng ta.
 
2. Bánh Thánh Thể và Lễ Vượt Qua
Các môn đệ muốn chuẩn bị cho Thầy mình ăn lễ Vượt Qua. Nhưng Thầy đã chuẩn bị trước đó từ khi nào rồi! 
Ngày thứ nhất trong tuần bánh không men, các môn đệ đến thưa với Đức Giê-su: “Thầy muốn chúng con dọn cho Thầy ăn lễ Vượt Qua ở đâu?” Người bảo: “Các anh đi vào thành, đến nhà một người kia và nói với ông ấy: Thầy nhắn: thời của Thầy đã gần tới, Thầy sẽ đến nhà ông để ăn mừng lễ Vượt Qua với các môn đệ của Thầy.” Các môn đệ làm y như Đức Giê-su đã truyền, và dọn tiệc Vượt Qua.
(Mt 26, 17-19)
Xin cho chúng ta nhận ra kế hoạch nhiệm mầu của Thiên Chúa đang được hoàn tất; và kế hoạch này vượt quá mọi ý muốn và ý nghĩ của con người, kể cả ý muốn của Sự Dữ (x. 1Cr 1, 18-25). Như Thánh Phaolo nói: “Sự giàu có, khôn ngoan và thông suốt của Thiên Chúa sâu thẳm dường nào ! Quyết định của Người ai dò cho thấu ! Đường lối của Người, ai theo dõi được !” (Rm 11, 33)
Để mừng lễ, người Do Thái sát tế chiên Vượt Qua (x. Mc 14, 12), bởi vì trong đêm Vượt Qua, theo lệnh của Đức Chúa, người Do Thái sát tế chiên con. Sự vô tội của con chiên tượng trưng cho sự vô tội của các con trai đầu lòng Ai Cập : « Ngài sát hại các con đầu lòng Ai Cập » (Tv 136, 10). Con chiên chính là món nợ của Israel. Khi nào Israel trả được nợ cho Ai Cập, và hai dân tộc được giao hòa ? Đó là lúc Đức Giê-su mang lấy chỗ của Con Chiên, Ngài sẽ làm cho Ai Cập (nghĩa là dân ngoại) và Israel (nghĩa là dân được tuyển chọn) trở thành một dân tộc duy nhất và thánh thiện bằng chính máu của Ngài ; và giữa chúng ta, nếu có mắc nợ hay hận thù gì, Ngài cũng hòa giải và làm cho chúng ta nên một, bằng chính máu của Ngài, được hiện tại hóa mỗi ngày nơi Bí Tích Thánh Thể.
 
3. Ơn huệ Bánh Thánh Thể 
a. Lời nói và cử chỉ quen thuộc
Lời nói và cử chỉ của Đức Giêsu trong bữa tiệc li không chỉ thân thương, nhưng còn rất quen thuộc đối với chúng ta, bởi vì Ngài mời chúng ta ăn và mời chúng ta uống: “Tất cả các con hãy nhận lấy mà ăn…”, “Tất cả các con hãy nhận lấy mà uống…”. Bữa tiệc li và Thánh Lễ làm chúng ta nhớ đến những bữa ăn hằng ngày của chúng ta.
Chúng ta phải ăn uống hằng ngày, bởi vì đồ ăn và đồ uống làm cho chúng ta sống. Vì thế, chúng ta vẫn nói: ăn để sống, chứ không phải sống để ăn. Tuy nhiên, chúng ta vẫn cứ muốn cải thiện đồ ăn và đồ uống để sống khỏe và sống lâu, nhất là khi đến tuổi trung niên. Ngoài ra, chúng ta còn ước mơ có được một thứ đồ ăn hay đồ uống nhiệm màu, ước mơ có một thứ thần dược, ăn hay uống vào là trường sinh bất tử. Trường sinh bất tử trên đời này là một điều thú vị và ai cũng khao khát; nhưng xét cho cùng cuộc đời này, cuộc sống này có đáng cho chúng ta sống mãi không?
Để đi vào sự sống mới, để đi vào sự sống phục sinh ngang qua cái chết, Đức Giêsu mời gọi chúng ta ăn và uống chính thịt và máu của Ngài. Điều này có nghĩa là chúng ta được mời gọi “ăn” và “uống” không phải một sự vật, giống như món ăn, hay như một thứ thần dược nào đó. Qua hành vi “ăn” mình Đức Giêsu và “uống” máu Đức Giêsu, chúng ta được mời gọi đi đến với Ngài và tin vào Ngài, nghĩa là đón nhận Ngài vào trong cuộc đời của chúng ta, để Ngài trở thành xương thành thịt, thành sự sống của chúng ta. Đức Giêsu ước ao trở thành lương thực cho chúng ta, nghĩa là muốn trở nên một với chúng ta.
• Giống như tấm bánh hay chén cơm hằng ngày được chúng ta đón nhận như ân huệ, được ăn, được nghiền nát, được hòa tan để trở thành sự sống cho chúng ta; Đức Giêsu cũng muốn trở thành lương thực để mang lại sự sống cho chúng ta.
• Giống như khi chúng ta đến dùng bữa do người thân, người bạn hay người yêu thiết đãi; khi dùng của ăn và của uống mà người thân yêu chuẩn bị và dọn ra mời chúng ta; chúng ta được mời gọi thưởng thức chính tình thương, tình bạn và tình yêu mà người kia dành cho chúng ta; Đức Giêsu cũng muốn chúng ta thưởng thức tình yêu đến cùng của Ngài dành cho chúng ta khi đón nhận mình và máu của Ngài.
• Và cũng giống như sự sống thể lí của chúng ta tùy thuộc vào những gì chúng ta ăn, và những gì chúng ta uống; sự sống nhân linh của chúng ta, nghĩa là tương quan của chúng ta với mọi người và với chính bản thân chúng ta, cũng tùy thuộc vào của ăn và của uống đặc biệt, là chính
MÌNH và MÁU ĐỨC KITÔ.
Nhưng tại sao lại là rượu? Tại sao Người dùng rượu để diễn tả máu? Rượu là biểu tượng của niềm vui trong truyền thống tôn giáo của người Do Thái. Chính vì thế, rượu là đồ uống tiêu biểu của Lễ Vượt Qua; hơn nữa rượu còn diễn tả ơn huệ sáng tạo và lịch sử cứu độ, vì là “sản phẩm của cây nho và công lao của con người”, tương tự như bánh. Cùng mang ý nghĩa niềm vui, rượu được dùng trong trong tiệc cưới, chẳng hạn tiệc cưới Cana; rượu là sản phẩm tiêu biểu của vườn nho, vốn là hình ảnh của những gì Thiên Chúa ban (sáng tạo, sự sống, cuộc đời, “nén bạc”, sứ vụ…). Vậy tại sao, Đức Ki-tô lại dùng biểu tượng của niềm vui để diễn tả “máu đổ ra”, nghĩa là sự chết của chính Người? Bởi vì, máu của Người mang lại cho chúng ta niềm vui: tha tội, hòa giải, chữa lành, giải thoát, phục hồi tái sinh.
b. Lời nói và cử chỉ hoàn tất lịch sử cứu độ
Chúng ta hãy đi vào chiều sâu và chiều rộng của bí tích Thánh Thể : tại sao Chúa lại thiết lập bí tích Thánh Thể ? Chắc chắn, là vì yêu thương; và chúng ta cũng có thể trả lời như thế về cái chết của Ngài trên Thập Giá. Tuy nhiên, vấn đề là tình yêu đó được bày tỏ như thế nào trong tương quan với ơn sáng tạo và lịch sử cứu độ, để có thể đụng chạm đến toàn nhân loại và đến từng người, không trừ một ai thuộc mọi nơi mọi thời. Bí tích Thánh Thể hoàn tất chương trình thông truyền sự sống của Thiên Chúa cho con người, ngang qua công trình sáng tạo và lịch sử cứu độ.
Thật vậy, điểm tới của sáng tạo là ơn lương thực, theo St 1, 29: với bí tích Thánh Thể, Thiên Chúa ban chính mình ngài làm lương thực, để làm thỏa mãn khao khát sự sống viên mãn. Trong sáng tạo, ngang qua ơn lương thực, đã chất chứa, lời hứa ban sự sống đời đời rồi (x. Tv 104; Tv Ga 6, 30-58), nghĩa là sáng tạo mới. Thật vậy, sáng tạo mới được thực hiện nhờ, với và trong Đức Ki-tô:
Cũng trong bữa ăn, Đức Giê-su cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, rồi bẻ ra, trao cho môn đệ và nói: 
“Anh em cầm lấy mà ăn, đây là mình Thầy”.
• Bánh, biểu tượng của lương thực.
• Đức Giê-su cầm lấy và dâng lời chúc tụng, bởi vì lương thực là ơn huệ Thiên Chúa ban (St 1 và Tv 104 phù hợp với kinh nghiệm sống và đức tin hằng ngày của chúng ta)
• Đức Giê-su bẻ ra trao cho các môn đệ: Người thực hiện hành vi ban lương thực của Đấng Tạo Dựng (x. St 1 và Tv 104). Ban lương thực để nuôi sống, qua đó diễn tả ý muốn duy trì sự sống.
• Và lương thực Người trao là chính Người: “Anh em hãy cầm lấy, đây là mình Thầy”, vừa để diễn tả tình yêu đến cùng, bởi vì ơn lương thực hằng ngày đã diễn tả tình yêu Thiên Chúa, nhưng có thể nói, vẫn chưa đến cùng, hay đúng hơn, vẫn chưa đánh thức con tim chúng ta, chưa làm no thỏa con tim chúng ta; và vừa để trao ban cho chúng ta Bánh hằng sống, nghĩa là sự sống mạnh hơn sự chết của người. Sự chết vừa là cái chết, vừa là tất cả những gì gây ra bầu khí chết chóc: chia rẽ, hận thù, nghi nghờ, ghen tị, ham muốn, bạo lực, thú tính, loại trừ…
Nhưng mà trong lịch sử, con người lại phải trải qua đầy thăng trầm, phải sống thân phận chóng qua của mình, số phận bi đát, đầy tai họa, đầy thử thách, tội lỗi, và nhất là một lịch sử bị chi phối nặng nề bởi Sự Dữ. Lời hứa ban sự sống của Thiên Chúa có còn giá trị không? Qua bí tích Thánh Thể và được hoàn tất nơi mầu nhiệm Vượt Qua, chính Đức Giê-su trở thành nạn nhân của lịch sử, của những gì thuộc về lịch sử:
Rồi Người cầm lấy chén, dâng lời tạ ơn, trao cho môn đệ và nói: "Tất cả anh em hãy uống chén này, vì đây là máu Thầy, máu Giao Ước, đổ ra cho muôn người được tha tội.”
Qua câu nói: “Đây là Máu thầy”, Đức Giê-su muốn nói với chúng ta rằng, dù lịch sử có như thế nào, vẫn cứ là con đường dẫn chúng ta đến sự sống viên mãn, điều mà Thiên Chúa đã hứa ban cho chúng ta từ thủa tạo thiên lập địa (x. Tv 136).
Ngay sau khi được tạo dựng và sau này, trong lịch sử cứu độ, loài người chúng ta đều vấp ngã về “chuyện ăn uống” (St 3, 1-7 và Ds 21, 4-9), biểu tượng của vấn đề sự sống giới hạn, thuộc thân phận và số phận con người: phải chăng Thiên Chúa không yêu thương con người đến cùng, khi ban cho con người sự sống giới hạn, thậm chí đầy thách đố và đau khổ? Vì thế, Đức Giê-su không thể không giải tỏa “vấn đề ăn uống” của loài người và của từng người chúng ta, ngang qua ơn huệ Bánh Hằng Sống, diễn tả ước ao trao ban và thực sự trao ban chính sự sống của Thiên Chúa cho con người. Xưa kia, trong Vườn E-đen, ma quỉ đã dựa vào “lệnh cấm ăn” để làm cho con người hiểu sai về tình yêu Thiên Chúa; thì nay, trong bữa tiệc ly, nơi Đức Giê-su Ki-tô, Thiên Chúa nói với chúng ta: “hãy cầm lấy mà ăn”!
Nhưng cách Thiên Chúa hoàn tất chương trình thông truyền sự sống, vẫn có cái gì đó “điên rồ”, giống như ông chủ vườn nho trong dụ ngôn những tá điền sát nhân. Xin cho chúng ta cảm nếm không chỉ tình yêu, nhưng cả sự khôn ngoan và sức mạnh nữa của Thiên Chúa, để con tim và trọn vẹn con người chúng ta được chinh phục. Xin cho chúng ta nhận ra Thánh Thể của Chúa, thật hiền lành và khiêm nhường, mang lấy trọn vẹn con người yếu đuối và tội lỗi của chúng ta.
 
Bài Suy Niệm 02 - ĐỨC GIÊ-SU CẦU NGUYỆN (Mc 26, 30-46)
 
1. Lời loan báo chối Thầy
Đức Giêsu không chỉ biết trước chuyện Giuđa phản bội, mà còn biết trước cả chuyện: “tất cả anh em sẽ vấp ngã”. Dường như không ai có thể đứng vững trước thử thách sắp đến, bởi vì đó là kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa, như lời KT đã chép: 
Bấy giờ Đức Giê-su nói với các ông: “Đêm nay tất cả anh em sẽ vấp ngã vì Thầy. Vì có lời đã chép: Ta sẽ đánh người chăn chiên, và đàn chiên sẽ tan tác. Nhưng sau khi trỗi dậy, Thầy sẽ đến Ga-li-lê trước anh em”
Chỉ có một mình Đức Giê-su có thể đối đầu được thôi, vì Kẻ Nghịch chính là Sự Dữ hành động nơi những con người cụ thể. Ngài đón nhận tất cả và còn hứa qui tụ các môn đệ lại sau khi đã Vượt Qua và chiến thắng Sự Dữ và Sự Chết. Nghe lời Thầy và đón nhận bánh và rượu Thầy trao, nhưng dường như các môn đệ chẳng hiểu gì; họ cùng theo Chúa đến núi Ôliu và họ được Chúa báo trước rằng họ sẽ vấp ngã tất cả vì Chúa; nhưng cùng với Phêrô, họ tuyên hứa với Thầy là sẽ không bao giờ chối bỏ Thầy: “Tất cả các môn đệ đều nói như vậy”. Họ dựa vào lời mình hơn là lời Chúa. Ông Phêrô nổi bật trong lời cam kết đến hai lần. Khi Chúa báo trước tất cả các môn đệ sẽ vấp ngã vì Chúa, Phêrô thưa: “Dầu tất cả có vấp ngã vì Thầy đi nữa, thì con đây cũng chẳng bao giờ vấp ngã.” Và khi Chúa nói một cách chính xác với Phêrô rằng ông sẽ chối Chúa đến ba lần ngay đêm hôm ấy trước khi gà gáy, Phêrô nói với Chúa: “Dầu có phải chết với Thầy, con cũng không chối Thầy”. 
Cần phải cương quyết như Phêrô, nhưng trong trường hợp này, Phêrô như đụng đến giới hạn của mình mà không biết, nhưng Chúa lại biết rõ. Để theo Chúa đến cùng trên con đường của Chúa, chúng ta không thể duy ý chí và dựa vào sức mình được. Phải để cho Ngài dẫn ta đi bằng ân sủng và lòng thương xót của Ngài.
 
2. Đức Giê-su buồn đến chết được
Tất cả là để chuẩn bị cho “Giờ” sắp xẩy ra; và trước khi « Giờ » đến, Ngài “cảm thấy buồn rầu xao xuyến”. Thực vậy, cả cuộc đời của Ngài là chuẩn bị cho “Giờ” này, cả lịch sử cứu độ cũng là để đi tới “Giờ” này. Vì thế, chúng ta hiểu được phần nào tại sao Ngài nói với các ba môn đệ: «Tâm hồn Thầy buồn đến chết được». Sức nặng của “Giờ” thật quá lớn, và có vẻ lớn hơn cả sức chịu đựng của Ngài!
Ngài đi cầu nguyện một mình với Cha, nhưng lại ước ao có sự hiện diện của các môn đệ: cả nhóm xa xa, ba người khác gần hơn; và Ngài ước ao họ lưu lại và tỉnh thức cùng với mình: “Anh em ở lại đây mà canh thức với Thầy”. Ngài dường như không thể chịu nổi một mình. Ngài đã như phải chết ở đây rồi, vì cái chết luôn chi phối người ta trước khi nó ra tay, nhất là cái chết gây ra bởi Tội và Sự Dữ. Vì thế, lời tâm sự Ngài ngỏ với Cha chỉ xoay quanh cái “Giờ” này. Sau khi bị bắt, Ngài như tìm lại được sự tự do nội tâm, và bình an để mình bị dẫn đi, chịu mọi thứ khổ hình, và cuối cùng là khổ hình thập giá. Nhưng chỉ có ở đây, Đức Giêsu mới bộc lộ nỗi đau buồn tột độ của mình một cách thật hữu hình.
Trong cuộc đời của mỗi người chúng ta, có nhiều khúc quanh, tất cả như để chuẩn bị cho khúc quanh «Giệt-sê-ma-ni» của đời mình. Đức Giê-su đã sống và đã vượt qua khúc quanh này; vì thế, Ngài thông cảm với hết mọi khúc quanh trong đời của chúng ta và nhất là khúc quanh cuối cùng (x. Dt 4, 15-16). Xin cho chúng ta sống những thời điểm này như Thầy Giêsu đã sống.
 
3. Ba lần cầu nguyện
Đức Giêsu đi xa hơn một chút, sấp mặt xuống cầu nguyện với Cha: “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi phải uống chén này. Tuy vậy, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha”. Người đến chỗ các môn đệ, thấy các ông đang ngủ, rồi Người lại đi cầu nguyện lần thứ hai: “Lạy Cha, nếu con cứ phải uống chén này mà không sao tránh khỏi, thì xin vâng ý Cha”. Người lại đến với các môn đệ, thấy các ông vẫn đang ngủ, Ngài để mặc các ông mà đi cầu nguyện lần thứ ba; lần này, Người nói lại với Cha cùng một lời của lần cầu nguyện thứ hai. Chúng ta có thể tự hỏi: tại sao Người “ba lần trở đi trở lại” như vậy, cầu nguyện một mình với Cha và trở lại với ba môn đệ, để mời gọi họ “canh thức và cầu nguyện với Người? Đó là vì việc “uống chén” là do ý muốn của Chúa Cha, nhưng ý muốn Chúa Cha là giải thoát con người, mà ba môn đệ là đại diện, khỏi Sự Dữ và tất cả những gì liên quan đến Sự Dữ và thông truyền Sự Sống của Người cho con người. Nếu so sánh giữa hai lời nguyện Đức Giê-su ngỏ với Chúa Cha, chúng ta có thể nhận ra rằng, cả hai đều diễn tả tâm tình “xin vâng”, nhưng nếu lời nguyện thứ nhất nêu ra khả thể “khỏi phải uống chén này”, thì lời cầu nguyện thứ hai hoàn toàn hướng về việc “phải uống”. Và lời cầu nguyện thứ hai này được Người thưa với Chúa Cha đến hai lần.
Khi ngỏ lời với Cha, «Người đi xa hơn một chút». Ngài muốn một mình đối thoại với Cha, bởi vì Giờ này là Giờ chỉ dành cho một mình Ngài. «Ngài sấp mặt xuống», thay vì quì xuống theo lời tường thuật của Tin Mừng Luca; thánh sử Mác-cô còn mô tả mạnh hơn: “Người sấp mình xuống đất” (Mc 14, 35). Tư thế này hoàn toàn khớp với tâm trạng của Ngài, là «buồn đến chết được». 
Trong lời cầu nguyện đầu tiên, Ngài cầu nguyện để cho, nếu có thể, “chén này” xa khỏi Ngài. Người ta thường làm nhẹ đi tâm tình này của Đức Giêsu, nhưng điều này lại diễn tả cho chúng ta mầu nhiệm Nhập Thể đi xa đến mức nào. Ngài chia sẻ thân phận của loài người và của mỗi người một cách tận cùng: Ngài không chỉ chia sẻ cái chết, nhưng còn sự sợ hãi trước cái chết; không chỉ sự sợ hãi trước cái chết do thân phận hay do tai họa, nhưng là cái chết do sự thù ghét; thù ghét không chỉ của con người, nhưng của Xatan. Như thế, tất cả «chén» của loài người hiện diện ở trong “Chén” của Ngài sắp uống.
Giống như Bí Tích Thánh Thể, chúng ta chỉ có thể chiêm ngắm, hiểu biết và cảm nếm cuộc Thương Khó với tất cả tầm mức “dài, rộng, cao, sâu”, khởi đi từ Lịch Sử Cứu Độ mà thôi. Với thân xác mỏng manh của Con Thiên Chúa nhập thể, Ngài được mời gọi bày tỏ Khuôn Mặt Rạng Người của Thiên Chúa Cha, một khuôn mặt đã bị hiểu lệch lạc, bị bóp méo, ngay từ nguồn gốc sự sống (x. St 3), nhưng không phải bằng những kì công lớn lao, hay những phép lạ cả thể; bởi vì lịch sử Dân Do Thái và cuộc đời của Đức Giê-su cho thấy rằng, những kì công lớn lao và những phép lạ cả thể không những không mang lại lòng tin, nhưng còn khơi dậy lòng ham muốn không cùng những điều lạ, ngoài ra còn bị Sự Dữ xen vào khơi dậy những cách hiểu và hành động lệch lạc. 
Vì thế, theo ý Cha, Ngài được mời gọi bày tỏ Khuôn Mặt Rạng Người của Thiên Chúa Cha theo một cách khác, “một cách điên rồ”, nhưng là sự điên rồ của tình yêu và khôn ngoan thần linh, qua việc:
• nhận hết vào mình thân phận của loài người chúng ta, 
• đảm nhận mọi số phận đầy tai họa của con người, 
• gánh lấy mọi tội lỗi của loài người,
• và đối diện với chính Sự Dữ biểu dương ở mức độ tuyệt đối.
Như thế, không phải một cách trực tiếp tội của tôi làm cho Chúa bị bắt, bị kết án và chịu khổ hình, nhưng Chúa tự nguyện chịu khổ hình để bày tỏ cho tôi tình yêu đến cùng của Chúa dành cho tôi, dù tôi là ai và đang ở trong tình trạng nào. Tôi được mời gọi tôi nhận ra nơi những gì Đức Giê-su mang lấy trong cuộc TK, có chính bản thân mình, như tôi là, nhỏ bé, giới hạn, yếu đuối, tội lỗi; tôi hiện diện cách trọn vẹn, được đón nhận cách trọn vẹn và được bao dung cách trọn vẹn trên đôi vai của Đức Giê-su, trong ánh mắt của Đức Giê-su, trong trái tim của Đức Giê-su.
Tất cả lịch sử cứu độ như treo vào những lời này của Đức Giêsu, những lời thật mong manh như thân phận con người. Ý Cha đã được bày tỏ ra cho Đức Giêsu qua Kinh Thánh và ngang qua cả thân phận con người nữa: phải để cho sự dữ đi đến cùng, và lộ ra nguyên hình nơi chính thân mình của Đấng Kitô, Con Thiên Chúa. Sức nặng của “chén” là quá lớn, quá lớn đối với thân xác mong manh của Đức Giêsu. Ngài sẽ kiệt sức đến nỗi không vác nổi thập giá của mình; trong khi đó ngài đã từng mời gọi: “anh em hãy vác thập giá mình mà theo Thầy”.
Ba lần cầu nguyện với Cha, trong cùng một tư thế, với cùng những lời nói và tâm tình, nhưng ba lần trở lại với các môn đệ, Ngài lại phản ứng theo những cách khác nhau. Lần thứ nhất, Ngài nói với ông Phê-rô, và qua ông, với các môn đệ với những lời lẽ như trách móc: «Thế ra anh em không thể canh thức nổi với Thầy một giờ sao? Anh em hãy canh thức và cầu nguyện, để khỏi lâm vào cơn cám dỗ. Vì tinh thần thì hăng say, nhưng thể xác lại yếu hèn» (Mt 26, 40-41). Trong lúc này, những gì Đức Giêsu chờ đợi nơi những môn đệ Ngài thương mến cách riêng thật không nhiều: tỉnh thức và cầu nguyện một giờ thôi, để đồng hành với Thầy và để không rơi vào cơn thử thách. Nhưng các môn đệ cũng không làm được, họ yếu đuối quá. Trở lại sau lần cầu nguyện thứ hai, Ngài chẳng nói gì, chỉ có tác giả Tin Mừng nói mắt họ bị nặng trĩu thôi. Và vào lần thứ ba, Ngài như nói với họ những lời đầy thương cảm: «Lúc này mà còn ngủ, còn nghỉ sao? Này, đến giờ Con Người bị nộp vào tay những kẻ tội lỗi. Đứng dậy, ta đi nào! Kìa kẻ nộp Thầy đã tới» (c. 45-46). Như thế, Ngài đã sẵn sàng để gánh vác hết tất cả thay cho các môn đệ, thay cho những con người yếu đuối, thay cho những con người tội lỗi, thay cho cả loài người: «Máu Giao Ước, đổ ra cho muôn người được tha tội» (Mt 26, 24). 
 
*  *  *
Giờ đã đến, Ngài sẽ từ từ đi vào trong thinh lặng, và sự thinh lặng này cứ càng ngày càng lớn; Ngài chỉ nói một vài lần trong những tình huống đặc biệt nghiêm trọng[1]. Đó là giờ nào hay giờ của ai? Của loài người, của Satan; nhưng cũng là giờ «Thinh Lặng của Ngôi Lời», giờ của Thiên Chúa. Tất cả như hội tụ vào cũng một thời điểm. Xin cho chúng ta nghe được sự thinh lặng của Ngôi Lời Nhập Thể.
 
Bài Suy Niệm 03 - ĐỨC GIÊ-SU BỊ GIAO NỘP (Mc 26, 47-56)
 
Dựa vào lời của Đức Giê-su nói với những người khác nhau, trình thuật kể về biến cố Đức Giê-su bị bắt trong cuộc Thương Khó, có để được chia làm ba phần. Cả ba phần đều là những biểu hiện của Sự Dữ: dùng dấu hiệu tình bạn để thực hiện hành động phản bội (c. 47-50); dùng bạo lực để bảo vệ tình bạn (c. 51-54); dùng sức mạnh để ăn hiếp người vô tội, và nhất là thực hiện hành động ăn hiếp trong bóng tối, qua đó bộc lộ bản chất gian dối (c. 55-56).
• Đức Giê-su và Giu-đa (c. 47-50)
• Đức Giê-su và một người môn đệ (c. 51-54); tượng trưng cho các môn đệ có mặt và ở mọi thời.
• Đức Giê-su và đám đông bạo lực (c. 55-56)
Và cả ba phần đều được đánh dấu bởi Lời của Đức Giê-su. Có thể nói, đây là những lời giảng sau cùng của Ngài; bởi vì trong cuộc Thương Khó, Ngài không giảng dạy bằng lời nữa, nhưng bằng chính Ngôi Vị của mình, và nhất là bằng Lời Thập Giá (1Cor 1, 18: ho logos tou staurou). Và theo Đức Giê-su, tất cả phải xẩy ra để ứng nghiệm lời Kinh Thánh: hai sự kiện được kể trong phần hai và phần ba của trình thuật (c. 54 và 56), và cả sự phản bội của Giu-đa nữa (Mt 26, 24; Ga 13,18).
 
1. Đức Giêsu và Giuđa (c. 47-50)
Giu-đa đến, đàng sau là một đám đông với các phương tiện bạo lực, và được sai đến bởi các thượng tế và kì mục. Sự dữ có sức mạnh lây lan và phát sinh như vậy: đám đông hung dữ làm bộc lộ khuôn mặt thật của các thượng tế và kì mục, bởi vì những người này có một vẻ bề ngoài nghiêm trang, thánh thiêng và cao quí. Giu-đa dẫn đầu cả đám, hay cả đám đẩy Giu-đa đi về phía trước?
Nếu chúng ta muốn và nếu còn được đánh động, chúng ta có thể dừng lại suy niệm những gì liên quan đến ông Giu-đa. Bởi vì, khi Đức Giêsu loan báo hành động phản bội của Giuđa, nhưng tự đáy lòng ai cũng cảm thấy có liên quan hay không chắn chắn về chính bản thân mình: «Các môn đệ buồn rầu quá sức, và lần lượt hỏi Người: “Thưa Ngài, chẳng lẽ con sao ?”. Chúng ta nên lưu ý đến bầu khí buồn rầu nặng nề. Đó là hậu quả tất yếu của Tội, của Sự Dữ. Trong tương quan với Chúa và với nhau, chúng ta cũng rất hay để cho Satan, Sự Dữ và những gì thuộc về Sự Dữ (tự ái, tức giận, ham muốn, ghen tị…) cư ngụ trong lòng và chi phối cách sống và ứng xử của chúng ta.
Một đàng, Giu-đa phạm trọng tội. Nhưng tại sao Giu-đa lại đi nộp Thầy của mình? Tin Mừng theo thánh Mát-thêu nhấn mạnh đến lí do tiền bạc: “Tôi nộp ông ấy cho quí vị, thì quí vị muốn cho tôi bao nhiêu?” (Mt 26, 15). Tuy nhiên, những gì diễn ra sau đó, cho thấy Giuda không phải hành động vì tiền: ông đã hối hận và trả lại tiền. Như thế, chắc là ông có một động lực khác nghiêm túc hơn. Đó có thể là vì ông thất vọng về cách hành xử quá hiền lành của Thầy mình; và tâm tình này chắc chắn cũng có nơi nhiều người khác nữa, trong đó có các môn đệ. Bởi vì, đã có những người bỏ đi, không theo Đức Giê-su nữa (Ga 6, 66). Và có thể vì đó mà ông muốn đặt Thầy của mình vào một tình huống nguy hiểm, buộc Thầy phải hành động bằng quyền năng để thoát thân và nhân đó, tái lập Vương Quyền trần thế bằng sức mạnh thần linh; nhưng ông đã không ngờ là Ngài không hành động gì, mà lại còn để cho mình bị kết án tử. 
Đàng khác, chính Satan hành động nơi Giu-đa (Lc 22, 3; Ga 13, 2 và 27); và nếu là như thế, Giu-đa cũng là nạn nhân trong hành động phản bội Thầy của mình. Tương tự như trường hợp “tội nguyên tổ”, chính Con Rắn là nguyên nhân chính: “Con Rắn đã lừa dối con, nên con ăn” (St 3, 13). Và đàng khác nữa, tất cả là để cho Kinh Thánh được hoàn tất, nghĩa là chương trình thông ban sự sống và cứu độ của Thiên Chúa được thực hiện cách trọn vẹn: “Đã hẳn Con Người ra đi theo như lời đã chép về Người” (Mt 26, 24a); “Phải ứng nghiệm lời Kinh Thánh sau đây: Kẻ cùng con chia cơm sẻ bánh lại giơ gót đạp con” (Ga 13, 18; trích Tv 41, 10). Như thế, bản chất đích thực của hành vi phản bội nơi Giu-đa phức tạp hơn chúng ta tưởng : cùng với Giuđa, còn có ma quỉ và hơn nữa cả hai được tháp vào trong kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa. 
Chúng ta hãy nghe và nhìn lời chào và cái hôn của Giuđa. Hình thức diễn tả tình bạn vẫn giữ nguyên, nhưng nội dung đã bị thay thế bởi điều hoàn toàn ngược lại. Đó là gian dối, là sự dữ, là bóng tối và là sự chết. Giuđa tìm cách nộp Thầy cho người ta giết đi, nhưng sự chết nằm ngay ở trong Giuđa. Lời đáp của Chúa thật lạ lùng, vì đó không phải là một lời lên án : « Này bạn, bạn đến đây làm gì, thì cứ làm đi » (c. 50). Rốt cuộc, nộp mình cho sự dữ, lại chính là ý định của Chúa, chứ không còn là của Giu-đã nữa, như chính Người đã nói trong bữa tiệc ly: «Anh em hãy cầm lấy mà ăn, vì này là mình Thầy, bị nộp vì anh em». 
Giu-đa cảm thấy thế nào khi nghe lời này, hay sau này, khi ông nhớ lại lời này? Tại sao Chúa lại để cho xẩy ra như thế? Nếu là tôi, tôi hành động thế nào? Phải chăng đó chính là cách thức Chúa chữa lành bằng lòng thương xót, đồng thời mặc khải sự khôn ngoan thần linh? Chúa sẵn lòng để cho mình bị nộp, bởi Giu-đa, bởi loài người, bởi từng người chúng ta, vậy còn điều gì Chúa không mang lấy với lòng bao dung? Phải chăng chỉ có lòng bao dung và thương xót mới có sức mạnh tái sinh lòng chúng ta? Và phải chăng đó chính là cách làm cho sự dữ phải lộ diện với bộ mặt thật của nó, vì sự dữ và bóng tối tự bản chất là kín ẩn, là dối trá, để chữa lành chúng ta khỏi sự dữ và để chiến thắng sự dữ?
 
2. Đức Giê-su và một người môn đệ (c. 51-54)
Trong bữa tiệc li, các môn đệ đón nhận bánh và rượu Thầy trao, nhưng dường như họ chẳng hiểu gì. Họ cùng theo Chúa đến núi Ôliu và họ được Chúa báo trước rằng họ sẽ vấp ngã vì Chúa; nhưng cùng với Phêrô, họ đã tuyên hứa với Thầy là sẽ không bao giờ chối bỏ Thầy ; họ dựa vào lời mình hơn là lời Chúa. Và cùng theo Thầy đến vườn Ghết-sê-ma-ni, nhưng họ ngủ vùi trong khi Thầy đang cầu nguyện trong sầu khổ.
Giữa Đức Giê-su và từng người trong chúng ta, cũng có những những khác biệt lớn lao như thế. Và vẫn chưa hết khác biệt, và đây là khác biệt lớn nhất: Đức Giê-su đã dạy đừng dùng bạo lực chống lại bạo lực (Bài Giảng Trên Núi: Mt 5, 39) và giờ đây Ngài sẽ sống đến cùng lời dạy này, nhưng một môn đệ lại dùng bạo lực. Thực vậy, người này rút gươm chém phải tên đầy tớ của thượng tế, làm anh ta đứt tai. Tại sao lại chém trúng tai? Và tại sao Chúa không cho dùng bạo lực? Có ba lí do:
• Vì tất cả những ai cầm gươm sẽ chết vì gươm. Điều này nghĩa là gì? Gươm là phương tiện của sự dữ, nhưng cũng là biểu tượng của sự dữ: đến một lúc nào đó, chúng ta trở thành phương tiện của gươm Sự Dữ. Người múa gươm một hồi, trở thành gươm múa người. Ngoài ra, trong lịch sử cứu độ, còn có một nguyên lí: không phải Thiên Chúa dùng phương tiện của Sự Dữ để tiêu diệt Sự Dữ, nhưng là Sự Dữ tự tiêu diệt Sự Dữ, như lời nguyện Thánh Vịnh loan báo: “Bọn ác nhân mắc bẫy chính chúng gài; còn con đây thì được thoát khỏi” (Tv 141, 10). Lời nguyện này loan báo cho chúng ta chính Mầu Nhiệm Vượt Qua của Đức Ki-tô.
• Vì một lý do tuyệt đối, đó là Thiên Chúa là tình yêu và chỉ là tình yêu mà thôi. Con người buộc phải dùng phương tiện của sự dữ (nghĩa là bạo lực) để trấn áp Sự Dữ; Thiên Chúa thì không thể, vì phương tiện của Sự Dữ không phù hợp với Sự Thiện tuyệt đối là Thiên Chúa. Tuy nhiên, Ngài vẫn mạnh hơn Sự Dữ và chiến thắng Sự Dữ bằng mầu nhiệm Vượt Qua: hành động cuối cùng của Sự Dữ là giết chết, và Thiên Chúa mạnh hơn sự chết. 
• Đó còn là để cho lời Kinh Thánh được ứng nghiệm. Trong Kinh Thánh có những lời loan báo về cuộc Thương Khó và Phục Sinh của Đức Giê-su; và Đức Giê-su ước ao trong tự do những lời này được hoàn tất nơi cuộc đời của mình. Nhưng chúng ta được mời gọi hiểu rộng hơn: Đức Giê-su sống theo Lời Kinh Thánh, nghĩa là Lời Chúa; trong mọi sự, Ngài khám phá ra ý muốn của Chúa Cha ở trong Kinh Thánh, nghĩa là Lời Chúa. Nhưng Kinh Thánh kể cho chúng ta những gì và những ai? Đó là lịch sử đầy thăng trầm và tội lỗi, là cuộc đời và số phận của những con người cụ thể (có thể đọc lại Gia Phả của Đức Giê-su theo thánh Mát-thêu, và hình dung những biến cố lịch sử ở bên dưới và cưu mang chuỗi những tên riêng; Mt 1, 1-17). Đức Giê-su Ki-tô, Con Thiên Chúa, sẽ mang vào mình tất cả trong cuộc Thương Khó.
 
3. Đức Giê-su và đám đông bạo lực (c. 55-56)
Bắt người trong đêm tối, chính là dấu hiệu của bất công và gian dối. Chúng ta hãy hình dung ra sự tương phản tuyệt đối giữa đám đông hung hãn trang bị khí giới và Đức Giê-su một mình, đúng hơn là bị bỏ rơi một mình (các môn đệ sẽ bỏ chạy hết) hiền lành và tay không. Hình ảnh này đã nói lên điều chính yếu nhất của mầu nhiệm Thương Khó.
Vì thế, lại một lần nữa, sự tương phản này, chính là để cho lời Kinh Thánh ứng nghiệm, nhất là “những lời chép trong Sách Các Ngôn Sứ”. Nhưng tại sao là các ngôn sứ? Chúng ta có thể nghĩ đến Người Tôi Tớ đau khổ (Is 52, 13 – 53, 12), ngôn sứ của mọi ngôn sứ.
 
Bài Suy Niệm 04 - ĐỨC GIÊ-SU BỊ XÉT XỬ (Mc 26, 57-58) 
 
1. Phê-rô đi theo Đức Giê-su (c. 57-58)
Mọi sự vẫn xẩy ra trong đêm. Hình ảnh của tội và sự dữ, hay là thời gian của tội và sự dữ. Trong Tin Mừng của mình, thánh Gioan nói: “Sau khi ăn miếng bánh, Giu-đa liền đi ra. Lúc đó trời đã tối” (13, 30). Nhìn các nhân vật xuất hiện và di chuyển trong bóng đêm, hay trong ánh đuốc leo loét. Và chúng ta được mời gọi nhận ra Tội và Sự Dữ xuất hiện dưới mọi hình thức và ở mọi cấp độ, ngang qua những con người cụ thể:
• Những người đã đi rình bắt Đức Giê-su ở vườn Ghết-sê-ma-ni, họ dẫn Ngài tới dinh Thượng Tế Caipha. Họ là kẻ dữ, nhưng vẫn không phải chủ mưu.
• Các kinh sư và kì mục đã tề tựu sẵn ở đó. Những người này đã có dự tính giết Chúa từ lâu.
• Những người làm việc trong dinh thượng tế. Họ chỉ làm theo lệnh mà thôi.
• Phêrô “nhập bọn” với họ. Chúng ta hãy cảm phục ông Phê-rô, nhưng cách nào đó, ông đã “nhập bọn” với họ.
Trước đó, ông Phê-rô nổi bật trong lời cam kết đến hai lần: “Ngay cả khi mọi người vấp ngã vì Thầy, phần con, con sẽ không bao giờ vấp ngã”; và khi Chúa nói một cách chính xác với Phêrô rằng ông sẽ chối Chúa đến ba lần ngay đêm hôm ấy trước khi gà gáy, Phêrô nói với Chúa: “Con sẽ không chối Thầy, dù có phải chết với Thầy”. Và quả thực, Phêrô đã thực hiện lời tuyên bố và lời hứa của mình: Một mình ông dám đi theo Chúa đang bị giải đi, và vào tận dinh Thượng Tế. Và nhất là dám trà trộn với bọn người làm để theo dõi sự việc. 
Hình dung ra Chúa Giê-su: Ngài trở nên thụ động, đó là ý nghĩa của từ thương khó (passion), ở giữa những hành động (action) khẩn trương của con người. Hình ảnh Đức Giê-su ngủ trên thuyền ở đàng lái, trong cơn sóng gió chết người, giúp chúng ta hiểu biến cố này hơn (Mc 4, 35-41).
 
2. Thượng Hội Đồng xét xử (c. 59-66)
Phiên tòa (biểu tượng của sự thật và công lý đối với con người) diễn ra ngay trong đêm (biểu tượng của gian dối và bất công), và bao gồm hai giai đoạn rất “đúng luật”: giai đoạn 1: lắng nghe nhân chứng; giai đoạn 2: chính vị Thượng Tế thẩm vấn và sau đó kết án.
Lắng nghe nhân chứng (c. 59-61). Chúng ta hãy hình dung ra Toàn thể Thượng Hội Đồng, vừa có thẩm quyền tôn giáo vừa có thẩm quyền chính trị, gồm 71 thành viên: chủ tịch là Thượng Tế Cai-pha đương nhiệm, các kỳ lão (đại diện của các gia tộc lớn), các thượng tế đã hết nhiệm kỳ, những người thuộc phái Sađốc, Pharisiêu và một số vị kinh sư, tiến sĩ luật. Tất cả những người đại diện cho quyền bính đạo và đời đều hiện diện ở đây và tham gia tích cực vào một vụ án bất công và gian dối. Chúng ta cần cảm thấy hết mức độ nghiêm trọng ở đây. Chính vì thế, Đức Giê-su mời gọi các môn đệ của Ngài đừng ham muốn quyền bính.
Các nhân chứng đến và đưa ra đủ thứ lý do, trong đó có hai người đưa ra lý do xem ra thuyết phục: “Tên này đã nói: tôi có thể phá Đền Thờ Thiên Chúa, và nội trong ba ngày, sẽ xây cất lại.” (c. 61) Thực ra, họ đã bóp méo sự thật để có thể kết án; thật vậy, Đức Giê-su đã nói “cứ phá hủy”, chứ không phải “tôi có thể phá hủy”. Người ta lên án tử rồi, sau đó mới đi tìm chứng cớ; và vì không có chứng cớ, người tạo ra chứng cớ. Những gì đã xẩy ra trong cuộc đời của Chúa, nay đạt tới cực điểm và rõ ràng ở đây. Bản chất của Sự Dữ là muốn giết chết, rồi sau đó đi tìm chứng cớ để lên án; và để lên án, thì phải dựa vào luật và tiến trình thi hành luật. Đây chính là hình ảnh minh họa cho cách con người thi hành luật ở mọi thời.
Hình dung ra Chúa Giê-su: Người ta ồn ào, tranh nhau lên tiếng, còn Ngài thì giữ thinh lặng. Tại sao Chúa không lên tiếng bào chữa cho mình? Hãy đọc ra ý nghĩa của sự tương phản này: Đấng vô tội trở nên có tội; Đấng vốn là thẩm phán trở nên bị cáo. Nhưng đó chỉ là bề ngoài: Vì người ta càng lên án Chúa, họ càng tỏ ra mình có tội, còn khuôn mặt của Đức Giê-su thì càng trở nên rạng ngời. Điều này chỉ có thể ứng nghiệm ở nơi một mình Đức Giê-su, vì Ngài là Đấng Vô Tội tuyệt đối. Lời Kinh Thánh phải được nên trọn là như thế đó.
Thượng Tế thẩm vấn (c. 62-66). Thượng Tế Caipha đích thân chất vấn; ông nhân danh Thiên Chúa hằng sống, nên Đức Giê-su không thể không trả lời. Và khi Ngài lên tiếng, Ngài chỉ có thể nói sự thật mà thôi. Ngài nói về ngày quang lâm, nhưng lại dùng thì hiện tại: “Từ nay…”. Như thế, căn tính Con Thiên Chúa đã rạng ngời ngay trong cuộc Thương Khó rồi. Xin cho chúng ta nhận ra khi chiêm ngắm cuộc Thương Khó của Ngài.
Và thượng tế đưa ra cáo trạng: “Hắn nói phạm thượng. Tại sao chúng ta còn phải cần nhân chứng nữa? Ngay lúc này đây, các ông vừa nghe lời phạm thượng. Đối với các ông đó là gì?” Tội ẩn nấp kĩ nhất trong lời lên án này đây. Vì thế, nên dừng lại đây thật lâu, để cảm thấy hết hình ảnh thật của tội, gian dối, ý muốn giết chết:
• Cho dù bản án có vẻ đúng luật, nhưng ý đồ loại trừ là có trước: “Còn các thượng tế và toàn thể Thượng Hội Đồng thì tìm chứng gian buộc tội Đức Giê-su để lên án tử hình” (c. 59). Tuy nhiên, có thực sự là Đức Giê-su nói phạm thượng không?
• Vị Thượng Tế đặt câu hỏi ở mức độ long trọng nhất về phương diện đức tin: “Nhân danh Thiên Chúa hằng sống, tôi truyền cho ông phải nói cho chúng tôi biết: ông có phải là Đấng Ki-tô Con Thiên Chúa không?” Đó là một câu hỏi nhân danh Thiên Chúa hằng sống, để đi tìm chân lí, nhưng lại hàm chứa gian dối, vị Thượng Tế không đi tìm chân lí, nhưng đặt câu hỏi với ý đồ kết án và giết chết. Nhưng đó vẫn chưa là tội lớn nhất, tội lớn nhất là chính khi ông kết án Đức Giê-su phạm thượng, thì ông phạm thượng, vì nêu danh Thiên Chúa hằng sống với ý đồ giết người, không phải bằng sự thật hay công lí, nhưng bằng sự gian dối. Thực vậy, Mười Điều Răn nói: “Ngươi không được dùng danh ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của ngươi một cách bất xứng” (Đnl 5, 11).
• Đó là một câu hỏi liên quan đến căn tính (không phải là hành vi phạm pháp), mở ra câu trả lời “phải” hoặc “không phải”, nhưng người hỏi đã lên án trước câu trả lời “phải” rồi. Ý đồ lên án cảng trở nên rõ nét hơn ở đây, vì đó không phải là câu hỏi đi tìm chân lí, nhưng để dòn ép người được hỏi vào chỗ chết. Bình thường, để sống còn, người được hỏi buộc phải trả lời là không phải. Và với Đức Giê-su, người không thể trả lời không phải. Công lý của con người là như thế đó. Chỉ hoàn toàn là cái vỏ. Chúa nói điều mình xác tín về căn tính của mình, hiểu ngầm là cũng “nhân danh Thiên Chúa hằng sống: “Chính Ngài vừa nói”. Ngài nêu bật: chân lí/gian dối, sự sống/sự chết, sự thiện/sự dữ.
• Câu hỏi của vị Thượng Tế: “Nhân danh Thiên Chúa hằng sống, tôi truyền cho ông phải nói cho chúng tôi biết: ông có phải là Đấng Ki-tô Con Thiên Chúa không?” (Mt 26, 63), cũng là một hành động giăng bẫy. Trước đó, Đức Giê-su luôn phá bẫy người ta giăng ra, nhưng lần này, Ngài để cho mình bị mắc bẫy và bị kết án: “Hắn nói phạm thượng… Hắn đáng chết” (c. 65-66). Đó thực sự là cái bẫy chết người, vì mang dáng vẻ bề ngoài “đi tìm sự thật”, hơn nữa con đưa cả “Thiên Chúa Hằng Sống” vào làm “mồi” giăng bẫy! Biến Thiên Chúa thành “mồi giăng bẫy”, với ý đồ giết chết, đó mới là phạm thượng! Giống như Con Rắn nói với bà Eva: “Có thật Thiên Chúa bảo…” (St 3, 1). Vậy thì ai phạm thượng? Loài người chúng ta, ngang qua hình ảnh Vị Thượng Tế cao quí, hay Đức Giê-su trong cuộc Thương Khó? Giăng bẫy kiểu này, chính là hành động đặc trưng của Satan. Thế là ứng nghiệm lời Kinh Thánh: “Cho bọn ác nhân mắc bẫy chính chúng gài, còn con đây thì được thoát khỏi” (Tv 141, 10; sách Các Giờ Kinh Phụng Vụ loại bỏ lời này; lời loan báo mầu nhiệm Vượt Qua!)
Họ mù quáng, vì một người sẵn sàng chịu bị lên án, khi có thể tránh được bằng cách trả lời không phải, thì phải kinh ngạc và đặt ra cho mình câu hỏi: người này là ai? Ngược lại, họ đồng tình với Thượng Tế Caipha và đồng thanh lên án Chúa: “Hắn đáng chết!” Hơn nữa, cho dù là Đức Giê-su nói phạm thượng, người hỏi nếu thực sự muốn đi tìm sự thật, phải hỏi xem “người nói phạm thượng” vì mục đích gì, trục lợi, hại người hay vô vị lợi và phục vụ con người.
Chiêm ngắm cách hành xử của Chúa. Ngài là Chân Lý và là Sự Sống, Ngài không có cách hành xử nào khác hơn là cách Ngài đã làm:
• Chân lý giữ thinh lặng vì không có gì để nói với Gian Dối, bởi vì bào chữa, minh chứng mình vô tội,... cũng hoàn toàn vô ích, bởi gian dối là gian dối, trong gian dối không thể có sự thật.
• Sự sống là sự sống, nên không thể dùng phương tiện của bạo lực để chống lại bạo lực, khuynh hướng loại trừ, huỷ diệt.
Ngài ứng xử theo đúng điều Ngài là. Đồng thời, qua đó, Ngài làm rõ, và không có cách nào rõ hơn, sự dối trá của con người và tính chất bạo lực nơi con người.
 
3. Sỉ nhục (c. 67-68)
Sự Dữ như hiện hình ở đây, dưới dạng thú tính: xúc phạm thể xác, xúc phạm danh dự. Chúng ta hãy hình dung ra những người sỉ nhục Đức Giê-su, họ không phải là người hầu, những là những thành viên trong Thượng Hội Đồng: Họ có một vẻ bề ngoài thật uy nghiêm và thánh thiêng, nhưng trước mặt Đức Giê-su họ biến thành những con người như thế: Họ khạc nhổ vào mặt Chúa, đánh đập Chúa, có những người tát Chúa và nhạo báng Chúa: “Ông Kitô ơi, hãy nói tiên tri cho chúng tôi: ai đánh ông đó”. Đây mới chính là tội phạm thượng: dùng danh hiệu thánh “Ki-tô”, dùng ngôn ngữ thánh “nói tiên tri”, để nhạo báng người khác.
Lời nhạo báng này còn có một tầm mức nghiêm trọng hơn: dùng ngôn ngữ đức tin, nhưng hoàn toàn không có đức tin. Đó là thứ ngôn ngữ trống rỗng, biểu hiện sự trống rỗng chết chóc nơi nội tâm của con người. Như thế, những lời nhạo báng mà chúng ta nghe chất đầy những hiểm họa. Thực vậy, việc từ chối tin sẽ khởi động cách nhanh chóng một tiến trình tăng tốc của sự chết: người không tin vào sự sống sẽ đòi hỏi những bằng chứng về sự sống và, từ đó rất nhanh đi đến chỗ tự mình đưa ra những bằng chứng về điều trái ngược với sự sống. Ai không tin vào sự sống sẽ chẳng mấy chốc làm việc cho sự chết (x. Kn 1, 16 – 2, 24).
Chúng ta không nên nghĩ rằng tội lỗi riêng của chúng ta đã làm cho Chúa bị phản bội, bị bắt, bị lên án, chịu khổ hình và chịu chết. Chúa chết vì những con người cụ thể như thế trong một hoàn cảnh lịch sử như thế; nhưng cả nhân loại và từng người, kể cả chúng ta, được mời gọi thấy mình trong cách hành xử của họ. Chúa chết vì tội lỗi nhân loại là như thế. Khi nhìn ngắm Chúa, là chân lý và là sự sống, dường như bị chìm ngập trong bầu khí gian trá và thú tính, xin cho chúng ta cảm được sự kinh khủng, không thể chấp nhận của tội, và xin Chúa tha thứ và chữa lành nhân loại, chữa lành từng người chúng ta.
 
Tuần Thánh 2015
Lm Giuse Nguyễn Văn Lộc