Viễn Tượng Về CT/TTHNGĐ

VIỄN TƯỢNG Về Chương Trình Thăng Tiến Hôn Nhân Gia Ðình

Trong 5 Năm Tới Và Trong Tương Lai Lâu Dài

Trình bày Ðại Hội Song Nguyền Thế Giới Kỳ II tại Orange, California, Từ 13 đến 15 tháng 6, 2003.

Kính thưa Quý Ðức Ông, Quý Cha, và Quý Anh Chị Song Nguyền,

Có lần tiếp chuyện anh Phạm Văn Quyết trên điện thoại, tôi nói rằng cần có viễn tượng sâu rộng, chuẩn bị kỹ lưỡng và lâu dài, sau đó thì an phận như bị mịt mù, không biết việc gì xẩy ra. Ðó là cách dung hòa giữa lý trí tự nhiên và phó thác siêu nhiên.

Riêng viễn tượng đời tôi (và cũng là viễn tượng của Chương Trình Thăng Tiến Hôn Nhân Gia Ðình) là những nguyện cầu xếp đặt, rồi sẵn sàng chấp nhận bất ngờ. Thí dụ năm 1969 cùng dạy học với Ðức TGM Phạm Minh Mẫn ở Chủng Viện Thánh Quý Cần Thơ, lúc đó tôi muốn đi du học, nhưng không phải là tôi mà là ngài du học tại Los Angeles, ở Loyola Marymount University của Dòng Tên.

Ðời tôi trải qua nhiều giai đoạn từng 5 năm một, có liên hệ đến Chương Trình Thăng Tiến Hôn Nhân Gia Ðình. Vì chưa chia sẽ những viễn tượng nầy bao giờ, nên tưởng trình bầy trong Ðại Hội nầy là điều nên làm.

1. Ngày 29 tháng Tư, 1975, bất ngờ Chúa đưa đẩy tôi lên chiến hạm 801, nên có cơ hội làm học trò trong 05 năm, từ 1975 đến 1980, để lấy Cao Học và Tiến Sỹ về tâm lý hướng dẫn.

Nhờ vậy có chất liệu để lập ra Chương Trình Thăng Tiến Hôn Nhân Gia Ðình.

** Năm 1981 và 1982 là những năm chuyển tiếp đời sống, Chúa dẫn đưa tôi vào Dòng Tên. Sau nhiều năm đã là linh mục, nay lại làm học trò, nhất là học trò của đời sống thiết thực, thăm viếng người cùi hủi, người đói nghèo bị bỏ rơi, người tù tội trong xà lim hôi thối,v.v..

Nhờ vậy có chất liệu để đưa Kinh Thánh và đưa "thương yêu gần gũi bằng việc làm" vào Chương Trình Thăng Tiến Hôn Nhân Gia Ðình.

2. Viễn tượng hay đúng hơn, sự Quan Phòng của Chúa 05 năm kế tiếp, từ 1982 đến 1987, là Khấn trong Dòng Tên, là lang thang trong những trại tỵ nạn ở Á Châu, là gặp người ăn thịt người ở Ðài Loan, là chứng kiến cảnh điên dại vì chờ đợi quá lâu trong trại tỵ nạn ở Hồng Kông hoặc Ma Cao, v.v..

Nhờ vậy có chất liệu để muốn Phương Pháp của Chương Trình Thăng Tiến Hôn Nhân Gia Ðình lá "Ý cho Cảm nghiệm Cụ thể để Thay đổi Ðời sống".

Từ 1983, tôi giảng Tĩnh Tâm Linh Thao ở nhiều tiểu bang. Sau ít năm thì chuyển Sang Tĩnh Tâm Gia Ðình.

Cũng trong ngũ niên nầy, tôi soạn thảo trong Cầu Nguyện để có Kinh Hôn Nhân Gia Ðình, có Huy Hiệu Tình Yêu cho Chương Trình, có những Tài Liệu nòng cốt cho Khóa Căn Bản của Chương Trình.

3. Viễn tượng cho ngũ niên thứ ba, 1987 đến 1992 là đi vào chi tiết để dễ thực hành hơn, đồng thời kiện toàn cả danh xưng của việc tông đồ mình làm. Ðó là không kể danh xưng "Tĩnh Tâm Linh Thao" thì giai đoạn I tôi gọi việc mình làm là "Tĩnh Tâm Gia Ðình". Giai đoạn II là "Cuối Tuần Hôn Nhân Gia Ðình". Giai đoạn III là "Chương Trình Hôn Nhân Gia Ðình". Rồi giai đoạn IV mới là "Chương Trình Thăng Tiến Hôn Nhân Gia Ðình".

** Từ 1991, tôi hướng về tương lai, thay vì tiếp tục viết báo thì chuyển sang viết các sách, bắt đầu với cuốn Biết Mình Ðể Sống Vui.

Vì hướng về tương lai mà tôi dự tính người khác sẽ làm thay thế mình. Ðây là một viễn tượng gian khổ, vì trước tiên phải có các thủ bản. Nghĩa là phải thâu thập, phải đọc nhiều, phải suy nghĩ trong cầu nguyện suốt năm nầy qua năm khác. Tôi có tiên đoán những mệt mỏi, những căng thẳng thần kinh, nhưng không ngờ gian lao đến thế.! Nếu người mẹ "mang nặng đẻ đau" thế nào thì tôi cảm nghiệm mình cũng giống như thế đối với Chương Trình.

4. Viễn tượng ngũ niên thứ tư, từ 1992 đến 1997, là phát triển các Khóa ở các tiểu bang, ở Canada, ở Úc Châu va Âu Châu. Nếu Thánh Gia không nâng đỡ thì tôi không thể bay đi liên tục mấy trăm ngày mỗi năm trong nhiều năm. Múi giờ, thời tiết, cách thức ăn uống , ngủ nghỉ, v.v. tất cả đều đảo lộn!

Ngoài việc nghĩ đến "Trao Ra" ở hải ngoại, thì khoảng 1994-1994, tôi nghĩ đến Quê Nhà, thao thức thật nhiều!

Nếu những ngũ niên trước tôi thâu thập tài liệu cho các thủ bản, thì trong ngũ niên nầy, tôi thực sự viết những thủ bản, tuy chưa xuất bản thành sách nhưng có những văn bản, thí dụ văn bản cho Khóa Căn Bản, v.v.

Cũng từ ngũ niên nầy, tôi đã mời một số quý anh chị diễn giải một phần trong Khóa, và mời quý Cha hướng dẫn Kinh Thánh làm nền tảng cho mỗi Buổi.

5. Viễn tượng ngũ niên thứ năm, từ 1997 đến 2002, nhờ đã xuất bản sách Nền Tảng và sách Hướng Dẫn Sinh Hoạt, nên bất cứ ai và ở bất cứ nơi nào trên thế giới, nếu chấp nhận đọc trong cầu nguyện, thì tôi đều kêu mời và thực tập ngay để diễn giải trong Khóa. Như vậy là huấn luyện "Trường Nội Dung" mỗi khi mở khóa ở một địa điểm.

Trong 16 năm, từ 1987 đến 2003, mà hướng dẫn các loại khóa để Duy Trì và Phát Triển Chương Trình khắp nơi trên thế giới, thì tưởng vượt quá sức lực của một người. Với tôi, điều nầy chứng tỏ Chúa làm qua một người.

6. Viễn tượng trong ngũ niên thứ sáu, từ 2002 đến 2007:

Dự tính thì mênh mông như vô hạn, nhưng sức làm việc thì có hạn, nên đành giới hạn những việc như sau:

1*. Cần có Ban Linh Mục Diễn Giảng để đi các tiểu bang, các nước, các châu lục, và Quê Nhà. Quý Cha có thiện cảm với Chương Trình thì rất nhiều, nhưng đi thay thế để làm công việc như người sáng lập làm, thì đòi hỏi thời giờ, ưa thích tâm lý, và đòi hỏi cơ thể dễ thích ứng với xa xôi giá lạnh, v.v...

Vì vậy xin cùng Tạ Ơn Chúa vì nay có bốn linh mục nếu kể cả tôi, rồi cha Hoàng Tiến Ðoàn, S.J..cha Trịnh Ðức Hòa, CSsR, và cha Phạm Văn Bảo, CSsR, ở Kỳ Ðồng, Sài Gòn. Cha Bảo đang thỉnh mời vài, ba cha nữa để đồng diễn giảng cho các Khóa vào cuối năm nay. Cha Nguyễn Ðức Thụ, S.J..cha Nguyễn Thanh Liêm và cha Bùi Xuân Mỹ có thể mở các Khóa ở bên Úc Châu,v.v..

Trường Nội Dung cần có linh mục vì ngoài tâm lý ra thì còn liên hệ đến Kinh Thánh, tín lý, và luân lý. Vậy Ban Linh Mục Diễn Giãng là việc cần thiết và đây là danh hiệu lần đầu tiên người sáng lập đưa ra. Ngoài ra nếu có một linh mục nắm vững thì mở được Khóa như người sáng lập đã mở mấy trăm Khóa, nhưng nếu là giáo dân thì cần ít là vài, ba cặp, tức là dăm, bẩy người. Ðiều nầy nan giải vì thiếu người và tốn kém nếu mở Khóa ở xa hàng ngàn dặm. Vì vậy có vấn đề tiếp theo:

2*. Huấn luyện các Trường Nội Dung Ðịa Phương: Người sáng lập liên tục làm việc nầy. Ngoài Trường Nội Dung ở Nam và Bắc California, thì sẽ thêm nhiều TND ở các nơi. TND Trung Ương đóng góp rất tích cực trong việc huấn luyện các TND Ðịa Phương nầy.

3*. Cần mở những "Chiến Dịch" Ðọc và Học Tập theo các sách Thủ Bản. Nếu muốn khắp nơi đều nắm vững nội dung và phương pháp của Chương Trình, tuy ngàn dặm xa nhau nhưng thực hành theo cùng một mục đích "thương yêu gần gũi bằng việc làm",v.v., thì dầu tính tự nhiên không ưa thích, lúc đó cũng cần cầu nguyện để có ý chí đọc và làm theo các sách thủ bản.

4*. Một số việc cần thiết ở ngoài Hoa Kỳ:

(a). Canada: Cần thành lập Trường Nội Dung càng sớm càng tốt.

(b). Úc châu: Cần xúc tiếp việc Họp Mặt Thân Hữu Các Song Nguyền, và cần có Ban Linh Mục Diễn Giải và có Trường Nội Dung. Nay có khoảng 1,000 song nguyền, tức trên dưới 500 cặp đã dự Khóa ở Sydney, Canberra, Brisbane, Adelaide, và Perth.

(c ). Âu châu: Ðức Ông Phêrô Ðào Ðức Ðiềm qua đời là sự mất mát lớn cho Chương Trình. Nên xin cầu nguyện nhiều để Chúa ban cho có vị đảm trách bên Âu châu. Cha Ngô Công Hoan, S.J.,và cha Huỳnh Công Hạnh, SVD., ở bên Ðức là nguồn hy vọng cho chúng ta.

(d). Quê nhà: Cần có Ban Linh Mục Diễn Giảng và có Trường Nội Dung. Với Ơn Chúa, hy vọng có thể hình thành vào dịp Giáng Sinh nầy.

5*. Ðại Hội Song Nguyền Thế Giới ở những Miền khác nhau, tương tự như Ðức Thánh Cha tổ chức Ngày Giới Trẻ Quốc Tế ở những nước khác nhau. Ðó là cách làm ích lợi cho nhiều người ở nhiều nơi, lại bớt gánh nặng về công sức cũng và tài chánh cho một nơi,v.v..

7. Viễn tượng từ 2007 về sau: Ngoài việc tiếp tục phát triển những điểm nêu ở trên, thì cần từ Ðại Hội (Grand Convention) tiến tới Tổng Công Ðồng (General Congregation).

Ðại Hội là thích ứng hiến pháp, tức là nội quy và thủ bản của Chương Trình để ích lợi hỏn trong những hoàn cảnh cụ thể.

Còn Tổng Công Ðồng tương tự như Thánh Công Ðồng Vatican II đã phát triển "thủ bản" là Kinh Thánh. Nếu cần hai năm để chuẩn bị thiêng liêng và thể chất cho một Tổng Công Ðồng.

Tại sao cần viễn tượng cho việc tu sửa như vậy? Tại vì cần khiêm nhường nhận mình chưa đủ nên cần bổ khuyết, cần "Thăng Tiến".

Con Cảm Tạ Chúa nhân từ vì "không có Cha các con không làm chi được". Và con Cảm Tạ lòng quảng đại của nhiều Quý Cha cũng như của nhiều Quý Anh Chị. Nhờ Ơn Chúa và nhờ sự cộng tác của Quý Cha và của Quý Anh Chị thì những viễn tượng trên đây mới có thể hiện thực./.

 

Lm. Phêrô Chu Quang Minh, S.J.
Sáng lập Chương Trình TTHNGD.